Đình Trung Cần (Thiên Nhẫn, Nghệ An)
Đình Trung Cần được xây dựng trên dải đất cao ráo, phong quang. Phía bắc và phía tây là khu dân cư xóm Trung Cần (xưa kia là xóm Đình và Xóm Khoa Trường) phía đông và phía nam là xóm Vũng Chùa (xưa kia là xóm Vũng, xóm chùa Giai (Quỳnh Trai) và xóm Cồn (Ngọc Cồn). Nhìn ra xa, đình hướng nam, bầu trời rộng, cao. Những ngày trời trong người ta có thể nhìn thấy mây núi xanh các vùng Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn và đèo Ngang tít tắp chân trời.
Địa chỉ: Thiên Nhẫn, Nghệ An

Mô tả di sản
Đình Trung Cần được xây dựng trên dải đất cao ráo, phong quang. Phía bắc và phía tây là khu dân cư xóm Trung Cần (xưa kia là xóm Đình và Xóm Khoa Trường) phía đông và phía nam là xóm Vũng Chùa (xưa kia là xóm Vũng, xóm chùa Giai (Quỳnh Trai) và xóm Cồn (Ngọc Cồn). Nhìn ra xa, đình hướng nam, bầu trời rộng, cao. Những ngày trời trong người ta có thể nhìn thấy mây núi xanh các vùng Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn và đèo Ngang tít tắp chân trời.
Đình Trung Cần được khởi dựng vào cuối thế kỷ XVIII, trong bối cảnh làng xã có nhu cầu hình thành một thiết chế sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng ổn định. Theo tư liệu di tích, đình được khởi công năm Tân Sửu (1781) và hoàn thành năm Nhâm Dần (1782). Người đứng ra công đức và trực tiếp tổ chức xây dựng là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đường, ông đỗ tiến sĩ năm 1779 dưới triều vua Lê Hiển Tông. Việc một trí thức đỗ đạt cao tham gia xây dựng đình cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tầng lớp khoa bảng với đời sống văn hóa làng xã: họ không chỉ phục vụ triều đình mà còn đóng vai trò dẫn dắt, tổ chức đời sống tinh thần ở địa phương.
Nguyễn Trọng Đường xuất thân trong một dòng họ có truyền thống khoa bảng và ngoại giao. Ông là cháu của tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường (đỗ Tiến sĩ năm 1712, thời Lê Dụ Tông) và là cháu gọi Nguyễn Trọng Đương (đỗ Tiến sĩ năm 1769) bằng chú. Ba thế hệ liên tiếp đỗ đạt và nhiều lần đi sứ nhà Thanh đã tạo nên uy tín lớn cho dòng họ. Chính nền tảng học vấn và vị thế xã hội ấy là điều kiện để Nguyễn Trọng Đường đứng ra quy tụ nguồn lực, tổ chức xây dựng đình Trung Cần như một công trình có quy mô và giá trị vượt trội trong vùng.
Về chức năng, đình Trung Cần được dựng lên trước hết là để thờ phụng Tiến sĩ Tống Tất Thắng, một danh nhân quê vùng Hoa Nam xưa (nay thuộc xã Trung Phúc Cường, huyện Nam Đàn). Ông đỗ Tiến sĩ năm 1505 dưới triều Lê Uy Mục, làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, đồng thời là người văn võ song toàn, nhiều lần cầm quân bảo vệ biên cương. Sau khi hy sinh, ông được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng. Việc lựa chọn Tống Tất Thắng làm đối tượng thờ chính phản ánh rõ quan niệm của cộng đồng: tôn vinh những người vừa có tài năng, vừa có công với đất nước, đồng thời gắn bó với quê hương.
Bên cạnh đó, đình còn phối thờ các vị thần như Tam Tòa Đại Vương, Tứ Vị Đại Vương, Cao Sơn – Cao Các, tạo nên một không gian tín ngưỡng tổng hợp, vừa mang tính lịch sử – nhân thần, vừa mang yếu tố thần linh bản địa. Điều này cho thấy đình Trung Cần không chỉ là nơi thờ một cá nhân mà còn là trung tâm tín ngưỡng đa tầng của cộng đồng.
Trải qua thời gian, đình Trung Cần không chỉ giữ vai trò là nơi thờ tự mà còn là không gian tổ chức các hoạt động lễ hội, hội họp và sinh hoạt văn hóa của làng. Về mặt kiến trúc, đình mang quy mô lớn, kết cấu bề thế, chạm khắc tinh xảo, thể hiện trình độ kỹ thuật cao của thợ thủ công và gu thẩm mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo.
Đình Trung Cần có quy mô tương đối lớn với 2 tòa Đại đình và Hậu đình. Khung nhà được làm hoàn toàn bằng gỗ Lim. Tòa Đại đình có kích thước lớn với tổng diện tích 244,8m2 (dài 20.4m x rộng: 12m), gồm 3 gian, 2 chái. Tổng cộng đại đình có 6 bộ vì kết cấu kiểu “giá chiêng chồng rường con nhị”. Đình Trung Cần được đánh giá là một trong những ngôi đình có giá trị nghệ thuật điêu khắc phong phú từ các đề tài trang trí bằng vôi vữa, đất nung trên bờ nóc, bờ giải, đến các đề tài chạm khắc trang trí trên các cấu kiện kiến trúc gỗ. Trên tất cả các cấu kiện như: rường, xà ngang, kẻ, bẩy… đều được chạm khắc các đề tài với thế đăng đối, hài hòa. Tiêu biểu là hình ảnh đầu rồng được chạm khắc trên các đầu dư với nét chạm tinh tế tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Hình ảnh chim phượng trang trí trên các câu đầu với nhiều tư thế và kiểu dáng khác nhau tạo nên sự đa dạng, phong phú tránh sự nhàm chán trong nghệ thuật trang trí. Đề tài “mẫu long huấn tử” thể hiện rồng mẹ, rồng con đang vui chơi và rồng mẹ đang tìm cách dạy dỗ rồng con. Đề tài được thể hiện thông qua nét chạm dứt khoát, tinh tế tạo nên hình ảnh lung linh. Ở góc xà thể hiện hình ảnh rồng ổ. Tám con rồng ổ là 8 đường gỗ tròn được chạm lộng đầu rồng cuộn tròn thu hình trong góc mái, đầu vươn ra khoảng không, miệng ngậm ngọc, nang vuốt, vây, vi đều được chạm khắc mềm mại, đường nét kín đáo, uyển chuyển tạo nên sự tinh tế, hài hòa. Trên 24 xà nách có 24 bức phù điêu, trong đó có 14 bức được các nghệ nhân thể hiện điển tích Trung Hoa như “Vua Thuấn đi cày ở núi Lịch sơn”, “Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn ở hoàng cung”, “Chiêu hiền đãi sỹ”, “Vương tử kiều cưỡng hạc lên tiên”…, những cảnh sinh hoạt dân dã được thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc trở nên lung linh huyền ảo với hình ảnh: “Vinh quy bái tổ”, “Người đánh đàn”, “Trẻ chăn trâu thổi sáo”, “Mẹ cho con bú”, “Trai gái giã gạo”, “Đánh cờ”, “uống rượu”…
Tòa Hậu đình có tổng diện tích 75.84m2 (dài: 9,6m x rộng: 7,9m) gồm 1 gian 2 chái, khung nhà làm bằng gỗ lim. Tòa Hậu đình do Tổng đốc Lê Nguyên Trung công đức xây dựng thêm khi ông về hưu sống tại quê nhà(4). Cũng giống như tòa Đại đình, tòa Hậu đình cũng được chạm khắc trang trí đẹp, trên hầu hết các cấu kiện kiến trúc đều được các nghệ nhân xưa chạm trổ các đề tài trang trí truyền thống như: “Long, ly, quy, phượng”, “Tùng, trúc, cúc, mai” với nghệ thuật chạm lộng, chạm bong kênh rất sắc nét. Giá trị nghệ thuật điêu khắc trên kiến trúc gỗ truyền thống nhằm tô điểm thêm giá trị nghệ thuật tạo hình tăng thêm tính linh cho công trình kiến trúc.



