Đền thờ tể tướng Nguyễn Công Thái (Hoàng Liệt, Hà Nội)
Đền thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái hay còn gọi là Nguyễn tướng công từ toạ lạc trong con ngõ nhỏ số 25, tổ 26, phường Hoàng Liệt Hà Nội, với diện tích 418,4m2. Ngôi đền trông ra hướng Tây, trước mặt là đường đi, phía sau và hai bên tiếp giáp với khu dân cư.
Địa chỉ: Hoàng Liệt, Hà Nội

Mô tả di sản
Đền thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái hay còn gọi là Nguyễn tướng công từ toạ lạc trong con ngõ nhỏ số 25, tổ 26, phường Hoàng Liệt Hà Nội, với diện tích 418,4m2. Ngôi đền trông ra hướng Tây, trước mặt là đường đi, phía sau và hai bên tiếp giáp với khu dân cư.
Nguyễn Công Thái sinh ngày mùng Một tháng 10 năm Giáp Tý (1684) trong một gia đình có truyền thống Nho học tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Đàm, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 18 tuổi (1702), thi đỗ Giải nguyên. Năm 31 tuổi (1715), Nguyễn Công Thái đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, khoa thi Ất Mùi, sau đó được triều đình bổ nhiệm làm Giám sát ngự sử Nghệ An, Giám sát ngự sử Thanh Hóa, Đốc đồng Hải Dương, Tham chính Kinh Bắc. Năm 1724, được điều về Kinh, thăng chức Đông Các Hiệu thư. Năm Bảo Thái thứ 9 (1728), Nguyễn Công Thái tuân chỉ nhà vua tới Tuyên Quang (núi Tụ Long) để giải quyết việc cắm mốc biên giới với Bắc triều (nhà Thanh). Lần đi này, Ông đã mang về cho đất nước phần đất có các mỏ khoáng sản (mỏ đồng Tụ Long), lấy lại được 40 dặm. Cũng năm đó, Ông đỗ khoa Đông Các, được Vua phong thưởng kiêm chức Đông các Hiệu thư, thăng chức Ngự sử phó đô Kim lãnh bá. Năm Quý Sửu 1733, thăng chức Tả thị lang bộ Công, nhập bồi tụng, sau đó được thăng Binh bộ Thị lang. Năm 1735, thăng chức Tả thị lang bộ Lại, đồng thời phụng mệnh đến Lạng Sơn tuyên dụ bọn giặc cỏ làm phản phải quy hàng. Năm Canh Thân (1740), bọn nịnh thần trong triều làm loạn, chúa Trịnh Giang ăn chơi sa đọa, đời sống nhân dân lầm than đói khổ. Nguyễn Công Thái bí mật cùng một số đại thần như Nguyễn Quý Kính, cùng Thái phi Vũ Thị đưa chúa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang. Năm Tân Dậu (1741), phụng lệnh tới Thanh Hóa quản nội trấn cơ đánh giặc được phong tước Quận công. Năm Nhâm Tuất (1742), thăng chức Thượng thư bộ Binh, hộ giá chinh phạt phía Nam dẹp giặc, bảo vệ chủ quyền đất nước, được ban Quản Tiền xa đội hầu kiệu võng. Năm Quý Hợi (1743) được thăng Thượng thư bộ Lễ, vâng chỉ ra Sơn Nam đánh giặc Hoàng Công Chất, dẹp Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương.
Theo gia phả họ Nguyễn, ngôi đền được chúa Trịnh Sâm cho xây dựng vào năm Mậu Dần (1758), triều vua Lê Hiển Tông để báo hiếu với Thầy. Từ năm Chiêu Thống thứ 3 (1788), ngôi nhà được dòng họ Nguyễn lập làm từ đường. Gian giữa thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái, gian bên phải thờ trưởng họ và gian trái thờ ngoại tổ.
Sang thời Nguyễn Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp là cháu đời thứ 4 của cụ Nguyễn Công Thái đã cho xây dựng thêm tòa Phương đình phía trước đền thờ. Năm 1888, đền thờ được trùng tu. Dấu vết của lần trùng tu này hiện còn lưu trên thượng lương nhà Phương đình với dòng chữ “Đồng Khánh tam niên tuế tại Mậu Tý quý đông” (tháng 12/1888). Tổng thể mặt bằng gồm: cổng đền, phương đình, đền chính, Tả mạc (nhà thờ Hậu), Hữu mạc (nhà thờ chi trưởng họ Nguyễn). Hệ thống di vật gồm hoành phi, câu đối, cửa võng, khám thờ, long ngai, hương án, bát hương, mâm bồng, đài nước, bi ký được tạo tác công phu. Đặc biệt là 3 tấm bia đá, trong đó có bia “Nguyễn Tướng Công từ” dựng năm Chiêu Thống thứ 3 (1788), được tạc bằng đá xanh, nét chữ khắc còn rõ, hoa văn sắc sảo. Nội dung bia về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Tể tướng Nguyễn Công Thái.
Nhà thờ hướng Tây- Nam, phía trước là đường làng, phía sau tiếp giáp với khu vườn của Nhà thờ danh nhân Nguyễn Trọng Hợp, hai bên tiếp giáp với khu dân cư. Toàn bộ khu nhà thờ bao gồm các hạng mục: cổng, bức bình phong, hai nhà tả hữu mạc, phương đình và nhà thờ.
Cổng nhà thờ: được xây với hai lớp cửa, trên một bình đồ dài 2,0 mét, rộng 1,6 mét; phía trên có mái tạo vòm cuốn. Phía ngoài, cạnh hai bên là hai cột trụ vuông, kích thước mỗi cạnh 0,4 mét, thân cột gắn các đôi câu đối bằng chữ Hán, đầu cột kiểu lồng đèn, đỉnh cột là hình hai con nghê hướng đầu về phía trước. Phía trên cửa đắp bốn chữ: “Nguyễn tướng công từ (từ đường tướng công họ Nguyễn).
Bức bình phong: xây bằng gạch, rộng 3 mét, cao 2,5 mét; hai bên bình phong là hai cột trụ vuông, kích thước mỗi cạnh 0,25 mét, trên đỉnh cột tạo dáng ngọn bút lông. Chính giữa bình phong là bức cuốn thư, phía trên trang trí để tài hoa văn triện, phía dưới trang trí để tài ngũ phúc khánh thọ (năm con dơi quay vào chữ thọ ở giữa, chữ thọ tròn được mở thủng khiến cho có thể nhìn thấy phía sau bình phong).
Hai nhà tả hữu vu: mỗi nhà gồm 3 gian, kích thước dài 7 mét, rộng 3 mét, cao 5 mét; nhà xây kiểu đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Hai ngôi nhà này xưa kia là nơi thờ hậu của dòng họ, ngày nay trong nhà vẫn có hai bệ thờ xây gạch.



