Đền Bảo Ninh (Hải Hậu, Nam Định)
Đền Bảo Ninh vốn nằm trên địa bàn xóm 10, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 2024, xã Hải Phương sáp nhập với xã Hải Bắc để thành lập thị trấn Yên Định, đến năm 2025 tiếp tục được sắp xếp thành địa phận xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình. Từ trung tâm thị trấn Yên Định, theo tỉnh lộ 56 đi khoảng 3 km là tới đền Bảo Ninh, một di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, từng là cơ sở cách mạng tin cậy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Địa chỉ: Hải Hậu, Nam Định

Mô tả di sản
Đền Bảo Ninh vốn nằm trên địa bàn xóm 10, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 2024, xã Hải Phương sáp nhập với xã Hải Bắc để thành lập thị trấn Yên Định, đến năm 2025 tiếp tục được sắp xếp thành địa phận xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình. Từ trung tâm thị trấn Yên Định, theo tỉnh lộ 56 đi khoảng 3 km là tới đền Bảo Ninh, một di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, từng là cơ sở cách mạng tin cậy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Đền thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc, danh tướng kiệt xuất của lịch sử Việt Nam, người đã ba lần chỉ huy quân dân Đại Việt đánh bại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên – Mông ở thế kỷ XIII, góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Đền Bảo Ninh được khởi dựng vào năm Tự Đức thứ 20 (1867) và hoàn thiện vào năm Duy Tân thứ 3 (1909). Đền là nơi thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc, danh tướng kiệt xuất đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông ở thế kỷ XIII. Gắn liền với quá trình khai hoang, lấn biển hình thành vùng đất Hải Hậu, đền Bảo Ninh còn thờ bốn vị Tổ khai hoang, lập làng gồm: Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia và Phạm Cập, cùng các dòng họ có công khai cơ lập ấp như: Lại, Nguyễn, Lê, Đỗ, Bùi, Phan, Đoàn, Trần, Vũ. Ngoài ra, đền còn thờ Tiến sĩ Đỗ Tông Phát – Dinh điền sứ, người có công lớn trong việc khai khẩn Tổng Quế Hải, một trong bốn tổng đầu tiên khi huyện Hải Hậu được thành lập năm 1888, đồng thời là nhà khoa bảng đầu tiên của huyện.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do vị trí thuận lợi và kín đáo, đền Bảo Ninh trở thành cơ sở cách mạng quan trọng của tỉnh và huyện. Trước âm mưu của địch mở rộng đánh chiếm đồng bằng Bắc bộ và 6 huyện miền nam của tỉnh Nam Định, ngày 16-10-1949, Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính của tỉnh đã tổ chức cuộc họp để triển khai nhiệm vụ lãnh đạo các lực lượng chiến đấu chống địch càn quét. Đồng thời chuẩn bị đưa công tác giáo dục tư tưởng, tổ chức hoạt động từ vùng tự do vào nơi bị địch chiếm đóng. Thi hành Nghị quyết của Tỉnh uỷ Nam Định, vào cuối tháng 10 năm 1949. Ban chấp hành Huyện uỷ huyện Hải Hậu họp tại đền Bảo Ninh để phổ biến âm mưu của địch đánh chiếm huyện Hải Hậu. Cũng trong cuộc họp này đã phân công các bộ phận lãnh đạo chiến đấu, bảo vệ dân sơ tán, bố trí cơ sở và những người ở lại bám đất, bám dân, tiến hành công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, quần chúng chịu đựng gian khổ hy sinh, chờ thời cơ thuận lợi để đánh giặc giải phóng quê hương.
Tại đền Bảo Ninh, Huyện uỷ Hải Hậu đã triệu tập cuộc họp với bí thư các xã bàn kế hoạch lãnh đạo quân chủng võ trang chiến đấu, tước vũ khí của bọn tề dõng địa phương. Sau khi cuộc tập kích đồn Văn Đàn vào đêm 8-1-1952 không thành công, cũng tại đến Bảo Ninh, đồng chí Trần Lâm, Uỷ viên liên khu uỷ 3 đã tổ chức cuộc họp với Ban thường vụ Huyện uỷ Hải Hậu và cán bộ quân sự để chuẩn bị kế hoạch chặn đánh quân tiếp viện của địch cho đồn Văn Đàn. Được sự giúp đỡ của nhân dân thôn chợ Hàng, trung đoàn 52 thuộc đại đoàn 320 đã tổ chức vượt sông sang xã Hải Hưng, Hải Thanh bố trí mai phục chờ quân tiếp viện của địch. Trưa ngày 16-1-1952, địch huy động 7 xe cơ giới chở lính Âu Phi từ Bùi Chu kéo về chợ Cầu Đôi. Chờ cho quân địch lọt vào trận địa phục kích, quân ta nhất tề nổ súng nhanh chóng tiêu diệt gọn một đại đội lính Âu Phi, phá huỷ 5 xe của chúng, số còn lại hoảng loạn tháo chạy. Chiến thắng Cầu Đôi đã làm cho quân thù hoang mang, dao động, đồng thời cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Trong thời gian bao vây bốt Văn Đàn, ông Nguyễn Trọng Luật, uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ (sau này từng là Vụ trưởng Vụ Bảo tổn, Bảo tàng) đã về lãnh đạo chi bộ xã Hải Phương. Cùng với nhà cụ Phạm Văn Vỵ, đến Bảo Ninh đã trở thành cơ sở để ông Luật đi về hoạt động và tổ chức các cuộc họp phân công nhiệm vụ bao vây đồn địch cho lực lượng dân quân, du kích địa phương.
Tháng 8-1953 khi giặc Pháp quay trở lại chiếm đóng nhà tràng Đông Biên lần thứ 2 thì đến Bảo Ninh là nơi tập trung lực lượng dân quân du kích để trực chiến, chặn đánh các cuộc càn quét, cướp phá của địch. Đồng thời tại đây còn tổ chức cứu chữa thương binh, khâm niệm, mai táng bộ đội và du kích bị hy sinh trong chiến đấu.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đền tiếp tục gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, được sử dụng làm địa điểm mở các lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng, kết nạp đảng viên mới, tổ chức hội họp của hợp tác xã và phục vụ sinh hoạt văn hóa giáo dục của con em địa phương, khẳng định vai trò đặc biệt của di tích trong đời sống chính trị – xã hội.
Trải qua thời gian, đền Bảo Ninh từng bị xuống cấp. Đầu thế kỷ XX, để được đền khang trang hơn, các cụ Nguyễn Công Tài, Phạm Văn Tuân, Phạm Văn Quán, Phạm Văn Bảng, Phạm Văn Trúc, Phạm Văn Sự đã đứng lên vận động nhân dân cùng nhau góp công, góp của để xây dựng tôn tạo đền Bảo Ninh.



