Chùa Y Sơn (Hợp Thịnh, Bắc Ninh)
Chùa Y Sơn (hay còn gọi là Chùa Ia) tọa lạc phía đông dưới chân núi Y Sơn, cách thị trấn Thắng, trung tâm huyện lỵ Hiệp Hòa 7 km về phía tây thuộc xã Hòa Sơn huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang. Sau tháng 7 năm 2025 thì thuộc địa phận xã Hợp Thịnh tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Hợp Thịnh, Bắc Ninh

Mô tả di sản
Chùa Y Sơn (hay còn gọi là Chùa Ia) tọa lạc phía đông dưới chân núi Y Sơn, cách thị trấn Thắng, trung tâm huyện lỵ Hiệp Hòa 7 km về phía tây thuộc xã Hòa Sơn huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang. Sau tháng 7 năm 2025 thì thuộc địa phận xã Hợp Thịnh tỉnh Bắc Ninh.
Theo các nguồn tư liệu hiện còn lưu giữ tại chùa, chùa Y Sơn được khởi dựng vào khoảng thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVIII). Thuở ban đầu, chùa có quy mô không lớn, kiến trúc chủ yếu gồm một tòa Tam bảo dựng ở sườn phía Đông núi Y Sơn, nằm liền kề đền Y Sơn. Sự hiện diện của chùa và đền trong cùng một không gian tạo nên một quần thể tín ngưỡng – tôn giáo gắn bó mật thiết, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của cư dân địa phương, vừa phản ánh đặc điểm “tiền Thánh hậu Phật” phổ biến ở vùng Kinh Bắc xưa.
Đến thời Nguyễn, thời vua Khải Định (1917), chùa Y Sơn được dời sang phía Tây núi Y Sơn và từ đó có tên chữ là “Y Sơn Tây tự”. Việc di chuyển này đánh dấu một giai đoạn thay đổi quan trọng trong lịch sử tồn tại của ngôi chùa, đồng thời định hình mặt bằng kiến trúc còn thấy ngày nay. Theo ghi chép trong sách Đại Nam nhất thống chí và Bắc Ninh tỉnh chí thì lên đỉnh núi IA có thể nhìn xa xung quanh, đời Lê từng dựng hành cung ở đây, trên núi có miếu Sơn Thần. Sách cũng mô tả vùng núi này có thế “voi phục, hổ chầu”, phía trước nhìn ra dòng sông Cầu, là nơi hội tụ linh khí của xứ Kinh Bắc. Những ghi chép đó cho thấy Y Sơn không chỉ là địa điểm có giá trị về cảnh quan mà còn mang ý nghĩa lịch sử, tín ngưỡng và phong thủy từ nhiều thế kỷ trước.
Sự gắn bó giữa chùa Y Sơn với truyền thuyết về Đức Thánh Hùng Linh Công cũng làm cho ngôi chùa mang thêm một lớp ý nghĩa văn hóa đặc biệt. Theo truyền tụng dân gian, sự tích về Đức Thánh được khởi nguồn từ chính khu vực núi Y Sơn, trong đó hình ảnh ngôi chùa cổ gắn với nhiều yếu tố huyền thoại và màu sắc Phật giáo. Điều này khiến chùa không chỉ là nơi thờ tự đơn thuần mà còn là không gian lưu giữ ký ức cộng đồng, phản ánh sự hòa quyện giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo trong đời sống cư dân địa phương.
Sau khi chuyển sang vị trí mới, nhân dân trong vùng tiếp tục đóng góp công sức để mở rộng quy mô kiến trúc của chùa. Cũng trong thời Nguyễn, chùa được dựng thêm 5 gian Tiền đường, từ đó tạo thành bố cục kiến trúc hình chữ Đinh, quay hướng Tây Bắc. Sự bổ sung này không chỉ làm tăng diện tích thờ tự mà còn cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của chùa trong sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân quanh vùng.
Trong thời kì tiền khởi nghĩa, chùa Y Sơn còn là cơ sở cách mạng quan trọng thời kỳ tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945. Nơi đây diễn ra cuộc diễn thuyết, tuyên truyền cách mạng của Đảng vào ngày 22/2/1940, (tức ngày 15 tháng Giêng âm lịch) ngày hội lệ thường liên, do chi bộ Đảng Hoàng Vân tổ chức, đồng chí Lê Hoàng đã phân tích tình hình thế giới, trong nước, chỉ rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng thời kỳ này là đấu tranh giành độc lập cho đất nước, chỉ rõ những yếu tố tạo thời cơ cho cách mạng bùng nổ và thắng lợi. Đồng chí đã kêu gọi toàn thể nhân dân đi theo Đảng, tham gia các tổ chức phản đế, đoàn kết chuẩn bị lực lượng để tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng tại chùa Y Sơn, ngày 5/3/1940 diễn ra cuộc diễn thuyết do bà Hà Thị Quế lãnh đạo.
Ngôi chùa hiện nay có tổng diện tích: 15.457,5m2 bao gồm các hạng mục công trình: Tam quan, nhà Phật đình hương hội, tòa Tam bảo và Hậu điện. Tam quan chùa mới được tôn tạo năm 2016 theo kiến trúc cổ truyền tam quan gác chuông với hai tầng, ba vòm cửa cuốn vòm.
Nhà Phật đình hương hội được tu sửa lại năm 2006 ở vị trí cũ phía trước tòa Tam bảo. Kiến trúc hiện nay kiểu chữ nhất gồm 3 gian, 2 chái với 4 mái đao cong, để thông thoáng, không xây tường bao và lắp cửa. Kết cấu khung liên kết vì mái gồm 4 hàng chân cột, mỗi hàng 6 cột được gắn kết bởi hệ thống hoành xà tạo vì mái. Phần liên kết các vì mái theo kiểu chồng rường giá chiêng, chạm khắc đơn giản. Hai cửa phụ phía trước sân chùa tạo theo lối nghi môn cuốn mái vòm, bổ cột trụ biểu mang dáng kiến trúc của thời Nguyễn cuối TK XIX đầu TK XX.



