Chùa Chi Đông (Phúc Long tự – Mê Linh, Hà Nội)
Chùa Chi Đông, tên chữ là Phúc Long tự, tọa lạc tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, Hà Nội (nay là xã Quang Minh, Thành phố Hà Nội). Chùa được xây dựng ở khu đất giáp đền Chi Đông, tạo thành một quần thể di tích Quốc gia đền – chùa Chi Đông.
Địa chỉ: Phúc Long tự – Mê Linh, Hà Nội
Mô tả di sản
Chùa Chi Đông, tên chữ là Phúc Long tự, tọa lạc tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, Hà Nội (nay là xã Quang Minh, Thành phố Hà Nội). Chùa được xây dựng ở khu đất giáp đền Chi Đông, tạo thành một quần thể di tích Quốc gia đền – chùa Chi Đông.
Hiện vẫn chưa có tư liệu nào xác định chính xác niên đại khởi dựng chùa Chi Đông. Dẫu vậy, dựa vào tấm bia cổ nhất hiện còn tại chùa mang tên Hưng Phúc Đức / Hậu Phật Thần / Thạch bi ký, lập vào niên hiệu Chính Hòa năm thứ 14 (1693), có thể biết rằng trong năm này, một vị Ty lễ giám họ Đỗ, người làng Chi Đông, đã cúng tiền để tu sửa chùa và được phối thờ làm Hậu Phật. Chi tiết ấy cho thấy ngôi chùa hẳn đã được dựng từ trước đó khá lâu, đủ để đến cuối thế kỷ XVII đã xuống cấp và phải tiến hành trùng tu, tôn tạo.
Theo tấm bia Phúc Long tự phối đình bi ký niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867), vào năm Định Mão, Tăng trụ trì Pháp Huy trông thấy cảnh chùa hoang phế, dãi dầu mưa nắng. Việc sửa chữa cần nhiều kinh phí, một mình trụ trì không thể gánh vác, nên ngài đã vận động các cư sĩ nữ trong tự viện cùng phát tâm, mỗi người đóng góp 12 quan tiền làm chi phí trùng tu, lại thêm mỗi người hiến một sào ruộng tốt để lo hương khói về sau.
Đến thời kỳ hiện đại, năm 2000, xây dựng Nhà Tổ. Năm 2010, chùa tiếp tục được dựng cổng Tam quan. Trong giai đoạn từ 2010 đến 2016, đền, chùa Chi Đông được trùng tu và tôn tạo trên quy mô lớn, góp phần bảo tồn diện mạo di tích và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng.
Chùa Chi Đông là một di tích tiêu biểu về giá trị kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc gỗ, tạc tượng, đồng thời còn bảo lưu được nhiều di vật, cổ vật quý có niên đại từ thời Lê – Nguyễn. Chùa được dựng từ thời Hậu Lê, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 14 (1693), gồm các hạng mục: Tam quan hai tầng tám mái, chùa chính, nhà Tổ và hai dãy hành lang tả – hữu. Hiện nay, chùa Chi Đông còn giữ được chùa chính và nhà Tổ khá bề thế, đồ sộ. Chùa chính gồm tòa Tiền đường 9 gian nối với Thượng điện 5 gian theo bố cục hình chữ “đinh”. Toàn bộ mái chùa làm theo kiểu chồng diêm ba tầng tám mái; riêng hai mái ở gian đầu hồi được thu nhỏ và nâng cao hơn mái Tiền đường để tạo thành lầu chuông và gác trống. Nhà Tổ nằm phía bên trái chùa, gồm 7 gian tạo thành hình “chuôi vồ”, kiến trúc theo kiểu “chồng bốn, kẻ truyền”, hệ thống cột và xà chắc khỏe. Nhìn chung, các cấu kiện gỗ của chùa đều sử dụng những loại gỗ tốt, được gia công bằng kỹ thuật mộng sàm chuẩn mực, tạo độ bền vững cao.
Chùa Chi Đông còn nổi bật với hệ thống chạm khắc phong phú về hình thức và nội dung. Tất cả các kẻ phía trước chùa, các dẹp hoành, kẻ đỡ đòn tay đều được trang trí hoa lá, vân xoắn, chữ triện cùng các linh vật như phượng, ly, long, mã. Đặc biệt, các bức cốn đã được những nghệ nhân dân gian tài hoa thể hiện thành những tác phẩm nghệ thuật điêu luyện, tinh xảo, tiêu biểu như cốn nách ở nhà Tiền đường; các bức cốn hai bên tả, hữu của Thượng điện chạm các đề tài long, ly, quy, phượng, mai, điểu, tùng, lộc… rất sinh động. Đây là những bức cốn đẹp, đạt trình độ thẩm mỹ cao của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam.[1].
Chùa Chi Đông hiện còn bảo lưu một hệ thống tượng pháp có giá trị nghệ thuật đáng kể, gồm 13 pho tượng chủ yếu được tạo tác bằng gỗ và đất luyện, mang đậm phong cách điêu khắc truyền thống. Tại tòa Tiền đường an trí 4 pho tượng, xếp theo thứ tự từ trái sang phải là: tượng Đức Ông, đôi tượng Hộ pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác và tượng Thánh Tăng. Trên Thượng điện đặt 6 pho tượng bày theo từng lớp uy nghi, gồm bộ Di Đà Tam Tôn, tượng Quan Âm Nam Hải, tượng Ngọc Hoàng và tượng Đức Thích Ca cưỡi long. Các pho tượng đều được tạo hình công phu, đường nét mềm mại, trang phục và thần thái được thể hiện sinh động, góp phần làm nổi bật vẻ tôn nghiêm, linh thiêng của không gian cổ tự.
Bên cạnh hệ thống tượng, chùa Chi Đông còn lưu giữ 10 tấm văn bia có giá trị tư liệu – lịch sử, tiêu biểu như: bia Hưng Phúc Đức / Hậu Phật Thần / Thạch bi ký niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1693); bia Phúc Long tự phối đình bi ký niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867); bia Hậu hạng bi ký niên hiệu Tự Đức 25 (1872); bia niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894); bia niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930); bia Phúc Long tự hậu bi ghi việc trùng tu chùa năm Thiệu Trị – niên hiệu Bảo Đại thứ 6 (1931); bia Cảnh Linh bi ký niên hiệu Bảo Đại thứ 13 (1938) cùng 3 bia khác mang niên hiệu Tự Đức.



