Lăng mộ

Lăng Thiệu Trị (Xương Lăng)

Mã QR của Lăng Thiệu Trị (Xương Lăng)
QR HediHEDI-CT-138

Lăng Thiệu Trị có tên chữ là Xương Lăng (昌陵) là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. Lăng Thiệu Trị nằm dựa lưng vào núi Thuận Đạo, ở địa phận làng Cư Chánh, phường Thủy Bằng, quận Thuận Hóa, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 8 km.

Địa chỉ: Xương Lăng

Lăng Thiệu Trị (Xương Lăng)

Mô tả di sản

Lăng Thiệu Trị có tên chữ là Xương Lăng (昌陵) là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. Lăng Thiệu Trị nằm dựa lưng vào núi Thuận Đạo, ở địa phận làng Cư Chánh, phường Thủy Bằng, quận Thuận Hóa, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 8 km.

Sau bảy năm trị vì, vua Thiệu Trị lâm bệnh nặng và băng hà ngày 4 tháng 11 năm 1847, hưởng dương 41 tuổi. Trong lúc lâm chung, nhà vua đã trăn trối với hoàng tử kế vị sau này là vua Tự Đức những chỉ dẫn rất cụ thể về việc xây dựng Sơn lăng. Ông dặn phải chọn đất ở vùng bãi cao, gần chân núi, thuận tiện cho việc thi công để giảm nhọc sức dân binh; đường toại đạo đưa linh cữu vào huyệt mộ nên noi theo cách làm ở Hiếu Lăng (lăng vua Minh Mạng); còn các công trình điện, vũ thì chỉ nên xây dựng chừng mực, tiết kiệm, tránh phô trương, lãng phí tài lực quốc gia.

Xương Lăng, nơi an táng Hiến Tổ Chương Hoàng Đế, ở xã Cư Chính, huyện Hương Thủy (phủ Thừa Thiên). Năm Tự Đức thứ nhất (1848), dâng tên núi là Thuận Đạo và dâng tên lăng.

Mùa xuân, tháng giêng năm Mậu Thân, Tự Đức năm thứ nhất (1848), vào ngày Nhâm Tý (tức ngày 11 tháng 2 năm 1848), vua sai sửa làm tôn lăng ở núi Thuận Đạo. Sai Vũ Văn Giải sung chức Đổng lý, cứ 10 ngày một lần, chiếu xét công việc hiện làm đệ tâu lên. Đường đưa quan tài dưới đất đều y theo quy chế của Hiếu Lăng, các sở tẩm (tức đền thờ ở lăng) điện, đỉnh, viện đều y theo quy chế ở lăng Thiên Mụ mà tùy theo địa thế châm chước liệu làm. Đến tháng 2, Ngày Giáp Ngọ, xây huyệt ở tôn lăng núi Thuận Đạo.

Quá trình xây cất Xương Lăng diễn ra gấp rút, nên chỉ sau ba tháng thi công, các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 11 tháng 2 năm 1848, vua Tự Đức cử đại thần Vũ Văn Giai sung chức Đổng lý, trực tiếp phụ trách công việc xây dựng lăng, đồng thời quy định cứ mười ngày phải tâu báo một lần về tiến độ thi công. Nhà vua đặc biệt căn dặn việc đào toại đạo – đường hầm đưa linh cữu nhà vua vào huyệt mộ phải làm theo đúng quy thức của lăng Minh Mạng; còn các công trình mang tính thờ phụng như điện, đình, các, viện thì căn cứ theo quy chế lăng Gia Long, đồng thời linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với địa thế thực tế. Công việc xây dựng toại đạo chính thức được khởi công vào ngày 24 tháng 3 năm 1848.

Do được tổ chức gấp rút và thi công liên tục, chỉ trong vòng ba tháng, các hạng mục chính của Xương Lăng đã cơ bản hoàn thành. Ngày 14 tháng 6 năm 1848, vua Tự Đức thân hành lên lăng để kiểm tra công trình lần cuối. Mười ngày sau đó, linh cữu vua Thiệu Trị được đưa từ điện Long An (thuộc cung Bảo Định), nơi quàn suốt tám tháng, về an táng tại Xương Lăng.

Vua Tự Đức đích thân soạn bài văn bia dài hơn 2.500 chữ, đặt tên là “Thánh đức thần công”, nhằm ghi chép thân thế và ca ngợi công đức của vua cha. Mặc dù lễ an táng diễn ra từ tháng 6 năm 1848, nhưng phải đến ngày 19 tháng 11 năm 1848, tấm bia đá này mới chính thức được dựng tại Bi đình. Tính từ ngày khởi công (11 tháng 2 năm 1848) đến khi hoàn tất toàn bộ công trình, việc xây dựng lăng Thiệu Trị diễn ra trong thời gian chưa đầy mười tháng – một trong những lăng tẩm được kiến thiết nhanh nhất dưới triều Nguyễn.

Nhân vật được thờ phụng chính tại Xương Lăng là vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông), vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn, con trai vua Minh Mạng và thân phụ vua Tự Đức. Tuy thời gian trị vì không dài (1841- 1847), vua Thiệu Trị được sử sách đánh giá là người cẩn trọng trong chính sự, đề cao tiết kiệm, giữ gìn kỷ cương triều đình và đặc biệt quan tâm đến việc giảm nhẹ sưu dịch cho dân chúng.

Liên hệ hợp tác

Đăng ký đóng góp dữ liệu hoặc trao đổi hợp tác triển khai QR cho điểm di sản.

Dự án Hedi - Kết nối di sản ViệtĐiện thoại: 0888 290 095Email: sohoadisan@gmail.com