Đình Trung Tự (Kim Liên, Hà Nội)
Tên gọi Đình Trung Tự bắt nguồn từ tên của làng Trung Tự xưa, nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Theo các tài liệu lịch sử và văn bia còn lưu lại, đình được lập từ khi lập làng Trung Tự, đình đã cùng làng Trung Tự trải qua nhiều thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Được xây dựng từ sớm, đình đã được trùng tu và mở rộng đáng kể dưới triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn. Mỗi giai đoạn lịch sử đi qua đều để lại những dấu ấn riêng biệt trên từng viên ngạch, thớ gỗ, tạo nên một tổng thể di tích có bề dày văn hóa đáng ngưỡng mộ. Việc bảo tồn Đình Trung Tự qua các thời kỳ thể hiện lòng thành kính và ý thức giữ gìn cội nguồn của các thế hệ cư dân địa phương.
Địa chỉ: Kim Liên, Hà Nội

Mô tả di sản
Tên gọi Đình Trung Tự bắt nguồn từ tên của làng Trung Tự xưa, nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Theo các tài liệu lịch sử và văn bia còn lưu lại, đình được lập từ khi lập làng Trung Tự, đình đã cùng làng Trung Tự trải qua nhiều thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Được xây dựng từ sớm, đình đã được trùng tu và mở rộng đáng kể dưới triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn. Mỗi giai đoạn lịch sử đi qua đều để lại những dấu ấn riêng biệt trên từng viên ngạch, thớ gỗ, tạo nên một tổng thể di tích có bề dày văn hóa đáng ngưỡng mộ. Việc bảo tồn Đình Trung Tự qua các thời kỳ thể hiện lòng thành kính và ý thức giữ gìn cội nguồn của các thế hệ cư dân địa phương.
Hiện nay, Đình Trung Tự nằm tại ngõ 198 phố Xã Đàn, thuộc địa bàn phường Kim Liên, Hà Nội. Đây là một vị trí khá đặc biệt khi ngôi đình nằm ẩn mình trong một khu dân cư đông đúc nhưng vẫn giữ được không gian yên bình, tách biệt với sự ồn ào của phố thị. Để di chuyển đến đây, du khách có thể đi theo trục đường Xã Đàn, rẽ vào ngõ 198 và đi sâu vào bên trong sẽ thấy cổng đình uy nghi hiện ra. Vị trí này không chỉ thuận tiện cho việc tham quan mà còn giúp Đình Trung Tự trở thành một “khoảng lặng” văn hóa quý giá ngay giữa trung tâm Thủ đô hiện đại.
Đình Trung Tự thờ thành hoàng là Tào Quận Công. Đình còn thờ Cao Sơn đại vương và Minh Huệ công chúa (?). Đình có một bia đá do Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám đời Lê Trung hưng soạn. Văn bia có nói đến sự kiện phế lập vua Lê Uy Mục (1505 – 1509), và vua Lê Tương Dực (1510 – 1516) và được thần Cao Sơn đại vương phù trợ – do đó thần Cao Sơn đại vương được tôn thờ.
Đình còn gắn liền với danh nhân Nguyễn Hy Quang. Theo những tư liệu lịch sử còn sót lại, gia đình thầy giáo Nguyễn Hy Quang đã đến định cư tại Thăng Long từ giữa thời Lê sơ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVI, dòng họ này bị một viên Thái phó là Việt Quận công chiếm đất. Từ đó, người dân làng Trung Tự phải sang trú nhờ làng Kim Hoa ở kế bên. Nguyễn Hy Quang ra đời trong cảnh nghèo khó, nhưng một thầy tướng số trông thấy ông dạo bước ở hồ Dâm Đàm thì khen rằng: “Đây là bậc hiền năng như Trương Lương đời Hán, Ngụy Trưng đời Đường. Ngày sau tất sẽ làm việc lớn phò vua giúp nước”.
Theo các cao niên làng Trung Tự, thuở nhỏ Nguyễn Hy Quang học ở nhà, sau theo học thầy Nguyễn Tự Huy. Theo thầy 2 năm, Hy Quang chuyển sang học quan Trưởng sử họ Trần. Sau đó, ông về nhà tự học thêm 3 năm nữa. Nhờ vậy mà ông thông Nho thạo Nôm, kiến thức cổ kim đều tỏ. Đề đốc Văn Phụng hầu Phạm Công Túc vì mến tài mà gả con gái cho. Năm 23 tuổi, tức năm 1657, Hy Quang tham dự kỳ thi Hương khoa Đinh Dậu đỗ Giải Nguyên; năm 1670 đỗ khoa Sĩ Vọng. Sau được bổ làm Giáo thụ phủ Thường Tín.
Ngày nay, qua tấm bia còn lưu ở đình Trung Tự đã phần nào cho thấy rõ những công lao của thầy giáo Nguyễn Hy Quang. Chức tước đầu tiên mà một người thầy làng Trung Tự nắm giữ là Lang trung bộ Lại kiêm Tri bộ Hộ và được giao thêm việc dạy Trịnh Bính, con trai chúa Trịnh Tạc.
Khi Trịnh Bính còn ít tuổi, ông thường dắt lên điện đình, chỉ bảo cặn kẽ. Sau này, ông tham dự phụ tá việc nhiếp chính của Trịnh Bính. Vị thế quan trọng, nhưng cũng đầy phức tạp đã khiến thầy giáo Hy Quang chịu không ít thị phi. Tuy nhiên, ông đã dốc hết tâm sức làm tròn trách nhiệm. Ông Mai Thế Tế cho biết, Thành hoàng làng Nguyễn Hy Quang khi còn sống đã có đóng góp lớn đối với làng Trung Tự trong việc đòi lại đất bị quan lại lấn chiếm từ nhiều đời trước.
Sau khi đỗ Giải Nguyên năm 1657, ông đã vận động đoàn kết các dòng họ trong làng, tìm cách đòi lại đất cũ. Trải qua 3, 4 lần xét xử, đến năm 1674 sau khoảng 80 năm phải “ở nhờ”, người dân Đông Tác, người dân làng Trung Tự đã được trở về phục nghiệp trên mảnh đất cũ của tổ tiên. Trong năm này, ông bỏ tiền lương cùng dân làng Trung Tự sửa sang làng xóm. Biết đó là nơi nền đất yếu, Trịnh Bính cho quân dẫn theo đàn voi đến khu đất mà giậm nền nhà cho vững để trả ơn thầy.



