Đình Lâm Động (phường Hoàng Lâm, TP. Hải Phòng)
Đình Lâm Động nằm trên địa bàn phường Hoàng Lâm, TP. Hải Phòng. Trước đây khu vực này thuộc xã Thủy Nguyên nằm ven tả ngạn sông Cấm, giữ vị trí địa lý thuận lợi cả về giao thông đường thủy lẫn phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, trên địa bàn còn có một lạch triều lớn chảy từ Kiền Bái qua Bính Động rồi đổ ra sông Cấm, tạo nên một cù lao nhỏ, bao gồm các làng Hoàng Pha, Lôi Động, Bính Động và Phương Lăng (tên gọi cũ là Hoa Lăng). Điều kiện địa hình sông nước đặc trưng này đã sớm hình thành nên một không gian cư trú ổn định, gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cư dân địa phương.
Địa chỉ: phường Hoàng Lâm, TP. Hải Phòng

Mô tả di sản
Đình Lâm Động nằm trên địa bàn phường Hoàng Lâm, TP. Hải Phòng. Trước đây khu vực này thuộc xã Thủy Nguyên nằm ven tả ngạn sông Cấm, giữ vị trí địa lý thuận lợi cả về giao thông đường thủy lẫn phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, trên địa bàn còn có một lạch triều lớn chảy từ Kiền Bái qua Bính Động rồi đổ ra sông Cấm, tạo nên một cù lao nhỏ, bao gồm các làng Hoàng Pha, Lôi Động, Bính Động và Phương Lăng (tên gọi cũ là Hoa Lăng). Điều kiện địa hình sông nước đặc trưng này đã sớm hình thành nên một không gian cư trú ổn định, gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cư dân địa phương.
Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Quang Ngọc, các làng Lâm Động, Hoàng Pha và Đồng Lý đã xuất hiện từ thời kỳ Bắc thuộc, là những đơn vị cư trú có lịch sử hình thành sớm trong khu vực. Theo ký ức và truyền ngôn của các bậc cao niên trong làng, các địa danh này vốn thuộc vùng Tùng Động. Tuy nhiên, do kiêng húy Bình An Vương Trịnh Tùng, tên gọi Tùng Động đã được đổi thành Tòng Động và được sử dụng trong một thời gian dài về sau.
Nhờ nằm ở vị trí giáp sông, gần biển, lại sở hữu quỹ đất rộng cùng nguồn nước ngọt dồi dào, vùng Lâm Động từ sớm đã thu hút cư dân nhiều nơi đến sinh cơ lập nghiệp. Người dân nơi đây không chỉ phát triển mạnh nghề nông và nghề đánh bắt thủy sản, mà còn biết tận dụng điều kiện tự nhiên để trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Bên cạnh đó, một số nghề thủ công truyền thống như mộc, nề, rèn cũng hình thành và phát triển, góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế địa phương. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa theo đường sông vì thế cũng khá sôi động, tạo nên diện mạo kinh tế phồn thịnh cho vùng đất này.
So với các làng, thôn trong khu vực, làng Lâm từ lâu đã được xếp vào loại làng văn minh, giàu có, có đời sống vật chất và tinh thần phát triển tương đối toàn diện. Làng có đầy đủ các thiết chế văn hóa – tín ngưỡng truyền thống như đình, chùa, miếu, quán, từ vũ, từ văn; phong tục tập quán nhìn chung thuần hậu, nề nếp, phản ánh rõ truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến động lịch sử và chiến tranh, phần lớn các công trình kiến trúc cổ đã bị hủy hoại hoặc mai một theo thời gian. Đến nay, trên địa bàn toàn xã chỉ còn bảo tồn được duy nhất ngôi chùa cổ với cây bảo tháp nổi tiếng, được xem là dấu tích tiêu biểu nhất còn lại của không gian văn hóa – tín ngưỡng xưa của vùng Lâm Động.
Theo nội dung văn bia Tân tạo Hòa Lạc đình bi (thác bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu số 8439), bia được lập vào năm Lê Chính Hòa thứ 9 (1668), có thể thấy rõ quy mô tổ chức và ý thức cộng đồng của cư dân địa phương trong việc xây dựng đình làng. Văn bia cho biết, khi tiến hành dựng đình mới, xã đã quy định mỗi người dân đều phải đóng góp một suất gạo và tiền, thể hiện tinh thần đồng lòng, chung sức của cả cộng đồng. Đồng thời, làng còn lập khoán ước, khắc ghi họ tên những người tham gia đóng góp lên bia đá nhằm lưu truyền lâu dài cho các thế hệ mai sau.
Khoán ước cũng quy định cụ thể các nghi lễ tế tự hằng năm tại đình. Theo đó, mỗi năm làng cử sáu vị chủ tế, mỗi vị đảm nhiệm việc cúng tiến hai chiếc nọng lợn, mỗi chiếc dày sáu tấc, cùng một mâm xôi được đồ từ hai mươi lăm đấu gạo. Lễ nhập tịch kỳ phúc giao cho hai giáp trong làng chịu trách nhiệm sắm sửa. Ngoài ra, trong đêm hát cửa đình, tiền thưởng được chia đều, mỗi người tham gia được nhận một mạch tiền, góp phần khuyến khích sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Căn cứ vào các nguồn tư liệu hiện có, ngôi đình có thể được xây dựng vào khoảng năm 1688. Tuy nhiên, trải qua nhiều lần tu bổ và biến động lịch sử, hiện không còn tài liệu ghi chép đầy đủ về các đợt sửa chữa trước đó; các bậc cao niên trong làng cũng không còn nhớ rõ. Riêng đợt đại tu diễn ra trong giai đoạn 1931–1935 thì vẫn được dân làng truyền nhớ khá chi tiết. Thời kỳ này, kinh tế làng Lâm phát triển mạnh, nhiều người đi làm ăn xa thành đạt, giàu có nên việc đóng góp công sức và tiền của cho công trình đình làng rất lớn.
Làng Lâm khi ấy còn có phường mộc nổi tiếng do ông Phó Bảng và ông Trương Trúc đứng đầu, vốn là những thợ giỏi, từng đảm nhận xây dựng nhiều ngôi đình cho các địa phương trong vùng. Để bảo đảm chất lượng công trình, làng đã thuê hai phường mộc cùng tham gia thi công và đặt ra giải thưởng. Mỗi phường phụ trách một phần đình theo bản thiết kế chung của làng, đồng thời phải giữ kín các bí quyết nghề nghiệp của mình. Đến ngày dựng đình, các bộ phận kết cấu của hai phường ghép lại rất khớp mộng, các mảng chạm khắc phù điêu đều tinh xảo, công phu, khiến dân làng khó phân định được bên nào hơn kém. Cuối cùng, phường mộc Thủy Nguyên được công nhận thắng cuộc nhờ hệ thống đấu võng có hình thức đẹp và kỹ thuật vượt trội.



