Đền

Đền Gin (Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định)

Mã QR của Đền Gin (Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định)
QR HediHEDI-CT-144

Đền Gin, trước đây còn gọi là Nam Phong Tổ từ, tọa lạc tại xóm Chiền, thôn Hiệp Luật, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Minh, tỉnh Ninh Bình). Đây là một di tích có kiến trúc gỗ tương đối hoàn chỉnh, tiêu biểu cho phong cách kiến trúc truyền thống của vùng Sơn Nam Hạ.

Địa chỉ: Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định

Đền Gin (Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định)

Mô tả di sản

Đền Gin, trước đây còn gọi là Nam Phong Tổ từ, tọa lạc tại xóm Chiền, thôn Hiệp Luật, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Minh, tỉnh Ninh Bình). Đây là một di tích có kiến trúc gỗ tương đối hoàn chỉnh, tiêu biểu cho phong cách kiến trúc truyền thống của vùng Sơn Nam Hạ.

Theo sử liệu, đền Gin xưa có tên là Nam Phong Tổ Từ, do những cư dân quê gốc Phong Châu dựng lập vào năm 672 nhằm thờ các vị tiền nhân có công khai khẩn, lập làng. Đền là nơi thờ phụng và tri ân công đức Tướng công Kiều Công Hãn, người đã có công giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở đầu thời kỳ tự chủ của dân tộc.

Đền là nơi thờ phụng và tri ân công đức Tướng công Kiều Công Hãn, người đã có công giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở đầu thời kỳ tự chủ của dân tộc. Ngoài ra, ở hai dãy Giải Vũ còn phối thờ 12 dòng họ, gồm 6 họ lập ấp và 6 họ kế thành, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn và sự gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tướng công Kiều Công Hãn là con cả của ông Kiều Công Chuẩn, hai em ông là Kiều Công Định và Kiều Công Thuận đều làm quan dưới triều Ngô Quyền. Khi vua Ngô chết, em vợ là Dương Tam Kha lên cướp ngôi buộc con cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập phải trốn sang Nam Sách (Hải Dương).

Năm 950, Ngô Xương Văn lập mưu lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua cho nhà Ngô. Năm 965, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị bắn chết trong một trận giao chiến với giặc Chu Thái ở hương Thái Bình (Đường Lâm, Sơn Tây). con Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí nổi nghiệp vua nhưng thế lực ngày một yếu, không quy tụ được quần thần, mỗi thủ lĩnh cát cứ một vùng nên đã gây ra cảnh chia cắt đất nước. Đó là loạn thập nhị sứ quân, chia đất nước thành 12 vùng, do 12 thủ lĩnh cát cứ. Trong đó Kiều Công Hãn là một trong 12 sứ quân, trấn giữ vùng Phong Châu (Bạch Hạc – Phú Thọ).

Khi Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư được Trần Lãm giúp đỡ tiến hành chinh phạt 11 sứ quân khác. Năm 967, Kiều Công Hãn bị thất trận phải chạy qua vùng An Lá (Nghĩa An -Nam Trực) thì bị thổ hào Nguyễn Tấn đem dân binh đến tập kích chém trúng cổ. Ông xé lụa quấn lấy cổ, chạy về đến vùng đất Hiệp Luật thì dừng lại ở quán bà hàng nước. Bà hàng nước dâng gỏi cá trắm cho ông ăn, ăn xong ông hỏi: “Bị thương thế này có sống được không?” Bà hàng nước chỉ vào đống đất cao gần đến nói: “Đây là nơi nghỉ tốt lành cho tướng công đó”. Kiều Công Hãn bước ra, cởi áo nằm xuống đống đất rồi hoá. Dân làng Hiệp Luật trông thấy sợ hãi bỏ đi. Dân làng Bái Dương lấy chiếu ra đắp. Sáng hôm sau mối đùn thành mộ che kín khắp người. Nhân dân gọi là mộ thiên táng. Người dân ở đây nghĩ rằng Kiều Công Hãn là người cùng quê nên rút chân nhang ở mộ vào đền thờ. Sau này dù cả 4 làng Bái Dương, Tang Trử, Cổ Lũng, Hiệp Luật cùng thờ nhưng phải tôn làng Bái Dương là cả, Tang Trử là thứ nhì, Cổ Lũng thứ ba và em út là Hiệp Luật.

Lại có thuyết khác cho rằng: Năm Đinh Mão (967), Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm trao binh quyền ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình ngày nay), với tiềm lực quân sự ngày một lớn mạnh Đinh Bộ Lĩnh liên tục đánh bại Lã Đường ở Tế Giang, Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang… Khi đó thành Phong Châu (Phú Thọ), nơi Sứ quân Kiều Công Hãn đóng giữ bị lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh vây hãm. Trong tình thế nguy cấp, Kiều Công Hãn đã đem vài trăm thân binh mở đường máu, thoát vòng vây chạy về phía Nam. Sáng ngày 10 tháng Chạp năm Đinh Mão (967), Kiều Công Hãn chạy đến vùng đất Thượng Hiền. Tại đây Lê Khai và Nguyễn Tấn đã bố trí sẵn lực lượng đón đánh, ông bị thương vừa phải chống trả, vừa tháo chạy. Đến Vũng Lẫm (xã Đồng Sơn ngày nay) thì sức đã kiệt, ông quay ngựa trở lại tới thôn An Lũng (xã Nam Dương ngày nay). Ông được bà hàng nước tên là Phạm Thị Già cứu giúp, dâng rượu và gỏi cá trắm. Ăn xong ông chạy đến Lũng Kiều, xã Hiệp Luật (nay thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương) thì kiệt sức và mất tại đây. Sáng hôm sau mối đùn thành mộ che kín khắp người. Nhân dân gọi là mộ thiên táng. Tương truyền sau khi ông mất, nhân dân bốn xã: Bái Dương, Tang Trữ, Cổ Lũng, Hiệp Luật lập đền thờ ngay trên phần mộ cũ (nay thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương). Nhân dân còn lập một miếu nhỏ phía ngoài cổng đền để thờ bà Phạm Thị Già, người có công dâng rượu và gỏi cá trắm cho ngài ăn trước khi hóa.

Thời kỳ chống quân giặc Tống xâm lược, vua Lê Đại Hành dẫn quân đi qua đây. Nghỉ đêm, nhà vua mơ thấy Kiều Công Hãn báo mộng phò giá giúp vua đánh giặc Tống. Sau khi đánh thắng giặc Tống xâm lược, nhà vua Lê Đại Hành đã trở lại cho cấp ruộng, sắc phong làm Thành Hoàng. Đến các triều đại phong kiến về sau đều cấp tế điền và tu sửa đền cho khắc bia đá ghi việc, cũng như ban hành Sắc phong “Long Kiều linh thánh”.

Liên hệ hợp tác

Đăng ký đóng góp dữ liệu hoặc trao đổi hợp tác triển khai QR cho điểm di sản.

Dự án Hedi - Kết nối di sản ViệtĐiện thoại: 0888 290 095Email: sohoadisan@gmail.com