Chùa Phổ Linh (Tây Hồ, Hà Nội)
Chùa Phổ Linh, tên chữ Phổ Linh tự (普靈寺) hoặc Địa Linh tự (地靈寺). Tên chùa vốn là Phổ Linh, đến năm Cảnh Thịnh thứ 3, Thiền sư Tịch Cẩn cùng các đệ tử đúc đại hồng chung, lúc đó chùa đã có tên Địa Linh: “Chùa Địa Linh là danh lam nước Nam Việt, thắng cảnh ở Tây Hồ”1, nên hai tên vẫn được dùng song song. Dân gian còn gọi chùa là chùa Tây Hồ (do nằm gần Phủ Tây Hồ). Chùa tọa lạc trên phố Đặng Thai Mai, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội (nay là phường Tây Hồ, Thành phố Hà Nội), nằm trong quần thể di tích tâm linh ven Hồ Tây.
Địa chỉ: Tây Hồ, Hà Nội

Mô tả di sản
Chùa Phổ Linh, tên chữ Phổ Linh tự (普靈寺) hoặc Địa Linh tự (地靈寺). Tên chùa vốn là Phổ Linh, đến năm Cảnh Thịnh thứ 3, Thiền sư Tịch Cẩn cùng các đệ tử đúc đại hồng chung, lúc đó chùa đã có tên Địa Linh: “Chùa Địa Linh là danh lam nước Nam Việt, thắng cảnh ở Tây Hồ”1, nên hai tên vẫn được dùng song song. Dân gian còn gọi chùa là chùa Tây Hồ (do nằm gần Phủ Tây Hồ). Chùa tọa lạc trên phố Đặng Thai Mai, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội (nay là phường Tây Hồ, Thành phố Hà Nội), nằm trong quần thể di tích tâm linh ven Hồ Tây.
Tương truyền, chùa được khởi công xây dựng (khai sơn) vào niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 5, đời vua Lý Nhân Tông (1079). Văn bia Phổ Linh tự bi khắc năm Vĩnh Tộ thứ 4 (1622) cũng có đoạn khẳng định như sau:
“Trải đến triều Lý – Trần [], lệnh trên ban tín chiếu khắp thiên hạ các nơi danh thắng lập đền dựng chùa. Nhân thế, ở phường Tây Hồ huyện Quảng Đức có danh thắng tên chùa Phổ Linh”.2
Khi Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam mở phật học viện tại chùa Quảng Bá (1969 – 1979)3, trụ trì chùa lúc ấy là Ni trưởng Đàm Điểm cho sử dụng khuôn viên chùa Phổ Linh làm cơ sở 2 để Ni chúng lưu trú, an tâm tu học.
Trải qua các triều đại, thời gian dài mấy trăm năm, chùa có nhiều đợt trùng tu lớn. Theo văn bia Phổ Linh tự bi (1622), chùa có một đợt trùng tu lớn kéo dài suốt 2 năm từ Mậu Ngọ (1618) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Thân (1620) mới hoàn thành:
“Mừng thay, bản phương ta quan viên hương ấp lớn nhỏ, răn rè nhàn cư, cảm phát thiện tâm. Nên ngày 16 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1618), chi tiền của, cầu thợ hay, chọn đất để dựng Phạn cung, điểm tô tượng Phật, bài trí phòng Tăng. Chế độ quy mô còn hơn cả thời trước”.4
Việc này có sự trợ giúp của hoàng gia, trong đó nổi bật là Quận chúa Trịnh Ngọc Liên và hoàng tộc Lê Phi Tự, cho thấy vị thế quan trọng của chùa trong đời sống tín ngưỡng đương thời.
Bia Phổ Linh tự bi (Chính Hòa thứ 17, 1697), mặt sau khắc năm Kỷ Mão (1699) cho biết: Năm Kỷ Mùi (1679) chùa lại được trùng tu; năm Giáp Tỵ (1684), chùa xây thêm gác chuông rộng lớn; năm 1696 xây tiếp 2 gian phụ gác chuông tạo thành Tam Quan, thêm 10 gian Đông lang và Tây lang, Tiền Đường, hậu tẩm và nhiều hạng mục kiến trúc khác, công trình kéo dài 3 năm (từ Đinh Sửu – Kỷ Mão).


