Chùa Kem (Tân Dũng, Bắc Ninh)
Chùa Kem còn có tên chữ là Sùng Nham Tự, nằm tại tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Từ lâu, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trong vùng mà còn gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử. Trong các giai đoạn đấu tranh của dân tộc, nơi đây từng là địa điểm hoạt động và trú đóng của nhiều lực lượng nghĩa quân và du kích cách mạng, trong đó có nghĩa quân Yên Thế. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa, chùa Kem đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt, hiện nay được địa phương và các cơ quan chức năng gìn giữ, bảo tồn cẩn trọng. Nhờ vậy, ngôi chùa ngày càng thu hút đông đảo du khách và phật tử thập phương đến tham quan, vãn cảnh và dâng hương.
Địa chỉ: Tân Dũng, Bắc Ninh

Mô tả di sản
Chùa Kem còn có tên chữ là Sùng Nham Tự, nằm tại tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Từ lâu, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trong vùng mà còn gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử. Trong các giai đoạn đấu tranh của dân tộc, nơi đây từng là địa điểm hoạt động và trú đóng của nhiều lực lượng nghĩa quân và du kích cách mạng, trong đó có nghĩa quân Yên Thế. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa, chùa Kem đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt, hiện nay được địa phương và các cơ quan chức năng gìn giữ, bảo tồn cẩn trọng. Nhờ vậy, ngôi chùa ngày càng thu hút đông đảo du khách và phật tử thập phương đến tham quan, vãn cảnh và dâng hương.
Theo quan niệm dân gian của người địa phương, dãy núi Nham Biền khi nhìn từ xa trông giống như hình ảnh hai con ngựa đứng song song. Khoảng không gian giữa hai “con ngựa” ấy tạo thành một thung lũng nhỏ, được gọi là ải Nham Sơn. Ngay trong khe núi, ở phần đầu của ải Nham Sơn thuộc dãy Nham Biền, có một ngôi chùa cổ nằm nép mình giữa thiên nhiên. Ngôi chùa đó chính là Sùng Nham Tự, tên Nôm quen gọi là chùa Kem.
Chùa Kem nằm cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 12 km về phía Đông Nam. Với vị trí nằm giữa núi rừng và thung lũng, chùa Kem không chỉ mang vẻ đẹp cổ kính mà còn hòa quyện với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tạo nên một không gian thanh tịnh, linh thiêng, vừa mang giá trị văn hóa – tín ngưỡng vừa có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Theo các thư tịch Hán Nôm hiện còn lưu giữ tại chùa, chùa Kem (Sùng Nham Tự) được khởi dựng vào năm Đinh Hợi, tuy nhiên do cách ghi chép cổ nên hiện nay các nhà nghiên cứu ước định năm xây dựng có thể rơi vào một trong ba mốc: 1527, 1587 hoặc 1647. Dù chưa xác định chính xác niên đại tuyệt đối, nhưng có thể khẳng định rằng ngôi chùa đã có lịch sử tồn tại từ nhiều thế kỷ trước.
Người có công hưng công xây dựng chùa được truyền lại là bà Hoàng Thị Tuế, một nữ tu theo dòng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – dòng thiền do Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông sáng lập. Việc một nữ tu đứng ra vận động xây dựng chùa cho thấy vai trò của Phật giáo Trúc Lâm trong đời sống tín ngưỡng của cư dân vùng này, đồng thời phản ánh sự gắn bó giữa chùa Kem với truyền thống Phật giáo của vùng Yên Tử.
Không chỉ là một cơ sở tôn giáo, chùa Kem còn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Năm 1884, Nguyễn Cao (tên đầy đủ là Nguyễn Thế Cao, hiệu Trác Hiên), quê ở làng Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, đã cùng nghĩa quân về đây xây dựng căn cứ để chống lại thực dân Pháp.
Đặc biệt, trong giai đoạn 1906 – 1908, Hoàng Hoa Thám cùng nghĩa quân Yên Thế đã chọn khu vực chùa Kem làm nơi đóng quân. Tại đây, ông cho đắp lũy phòng thủ, dựng nhà ở, tổ chức huấn luyện binh lính và biến khu vực chùa thành một căn cứ quan trọng trong phong trào khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp. Đến nay, nhiều dấu tích của thời kỳ này vẫn còn được lưu giữ trong khu vực chùa như: tường lũy, nền Nhà quan, Giếng quan, cột cờ, trạm gác, góp phần minh chứng cho vai trò của chùa Kem trong lịch sử đấu tranh của địa phương.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Pháp thế kỷ XX, chùa Kem tiếp tục được sử dụng như một địa điểm hoạt động cách mạng. Năm 1950, tại đây đã diễn ra cuộc họp Đại biểu Quân sự liên xã Quang Trung – Yên Lư nhằm bàn kế hoạch đối phó với các cuộc càn quét của địch. Trong các năm 1951 – 1952, chùa còn được sử dụng làm nơi sơ cứu và nuôi dưỡng thương bệnh binh, trở thành hậu phương quan trọng hỗ trợ lực lượng kháng chiến.



